BỘ SẴN SÀNG BÁO CÁO QUỐC HỘI VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Khẳng định sẵn sàng báo cáo Quốc hội về giáo dục, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân tin ở khả năng của địa phương trong việc giám sát chất lượng các trường nếu được phân cấp. Ông cũng kêu gọi sinh viên tham gia kiểm soát chất lượng trường mình học.
Tại buổi thảo luận tổ sáng 22/10 về tình hình kinh tế- xã hội, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Phúc Hoàng Văn Toàn nói vừa qua một số báo đã đăng nhiều bài về giáo dục đại học, song các đại biểu Quốc hội muốn có báo cáo toàn diện về giáo dục đại học.
Trao đổi với Vietnamnet, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: Nếu ý kiến này phản ánh lên và được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý thì Bộ sẽ cung cấp trong kỳ họp này báo cáo tổng thể về giáo dục đại học: những gì đã đạt được, khó khăn, yếu kém, giải pháp… để ĐBQH hiểu, chia sẻ, góp ý. “Đó là điều rất tốt”, ông Nhân nói.
Tin khả năng của địa phương
Thưa ông, dư luận cho rằng các trường ĐH đang được mở ra ồ ạt ở Việt Nam . Chỉ trong 2 năm 2006, 2007, có tới 40 trường ĐH mới hoặc được nâng cấp từ cao đẳng. Ông đánh giá thế nào về hiện tượng này?
Từ năm 1998 đến tháng 9/2009 cả nước có 32 trường đại học mới và 55 trường đại học được nâng cấp từ trường cao đẳng. Tức là có thêm 87 trưòng đại học sau 12 năm. Năm 1997 cả nước chỉ có 62 trường đại học. Như vậy số đại học đã tăng từ 62 lên 149, bằng 2,4 lần. Đây không phải là ý muốn chủ quan của Chính phủ mà là thể hiện nhu cầu vừa nâng cao chất lượng, vừa nâng cao số lượng người được đào tạo trình độ đại học của các cơ quan sử dụng lao động, của người học và gia đình và của các nhà đầu tư cho giáo dục.
Trong 55 trường đại học được nâng cấp từ trường cao đẳng thì 52 là từ cao đẳng công lập, chiếm 95 %, và 3 là từ trường cao đẳng tư thục.
Tức là Nhà nước, mà trước hết là qua các tỉnh, thành phố và các Bộ, đã đề xuất nhu cầu này và đầu tư từ ngân sách cho việc này. Các trường cao đẳng này đã có thời gian hoạt động thường từ 10 đến 30 năm, có cơ sở vật chất khá tốt và hoạt động có nề nếp.
Trong số 32 trường đại học mới thành lập thì 30 là trường đại học dân lập và tư thục, chiếm 94 %, còn 3 là trường đại học công lập. Như vậy thực tế chủ trương của Nhà nước là dùng ngân sách để đầu tư chủ yếu cho nâng cấp một số trường cao đẳng thành trường đại học và thành lập rất ít trường đại học mới khi thật cần thiết. Đại đa số các trường đại học thành lập mới là tư thục và dân lập, phù hợp với chủ trương xã hội hóa giáo dục. Các đại học này chỉ có thể được thành lập, khi UBND các tỉnh ủng hộ về chủ trương, sẵn sàng cho thuê đất (nếu chủ đầu tư có nhu cầu), xác nhận đủ các điều kiện thành lập trường.
Năm 2001 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 47/2001/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng cả nước giai đoạn 2001-2010. Đây là một căn cứ quan trọng để xem xét việc cho phép thành lập trường. Việc tăng các trường ĐH, CĐ giai đoạn 1998-2009 đã làm tăng số sinh viên. Năm 1997, cả nước chỉ có hơn 80 sinh viên/1 vạn dân thì năm 2009 đã gần 200 sinh viên/1 vạn dân. Tuy nhiên, con số này rất thấp so với một số nước vào năm 2005, ví dụ của Thái Lan là 374 sinh viên/1 vạn dân, Chi lê là 407, Hungari là 432, Nhật là 316, Pháp là 359, Anh là 380, Úc là 504, Mỹ là 576, Hàn Quốc là 674. Theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, năm 2020 Việt Nam đạt khoảng 450 sinh viên/1 vạn dân, tương đương với Hungari năm 2005, ít hơn bình quân của 5 nước Nhật, Đức, Pháp, Anh, Úc là 357 vào năm 2005.
Trong vòng 7 năm, từ 1998 đến 2005, chỉ có 6 trường đại học ngoài công lập được thành lập, còn từ 2006 đến 2009, trong vòng 4 năm có 24 trường đại học tư thục được thành lập. Sở dĩ có tình trạng này là vì Luật Giáo dục năm 1998 tuy cho phép 4 loại hình đại học: công lập, bán công, dân lập và tư thục, song các đại học ngoài công lập là còn rất mới mẻ với xã hội ta, các nhà đầu tư còn thận trọng. Với Luật Giáo dục mới 2005, chỉ còn 2 loại hình là đại học công lập và tư thục. Qua thực tế, các nhà đầu tư tin cậy nhiều hơn vào chủ trương phát triển bình đẳng đại học tư thục và công lập, do đó số lượng dự án thành lập trường đại học tư thục tăng mạnh.
Cũng phải thấy rằng xã hội hưởng ứng chủ trương xã hội hóa là điều đáng mừng. Sẽ rất tốt khi có quy trình, tiêu chuẩn và kiểm soát được chất lượng các trường.
Nhưng thực tế, có những trường ĐH mở ra nhưng không hề đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, số lượng, chất lượng giảng viên. Vậy ông đánh giá thế nào về năng lực thẩm định dự án khi cấp phép cho các trường đó?
Đúng là có một số trường đại học khi đi vào đào tạo vẫn chưa đủ các điều kiện cần thiết theo quy định của luật pháp. Tuy nhiên số này không nhiều. Trong số 87 trường đại học được thành lập từ 1998 đến tháng 9/2009, có 54 là đại học công lập chiếm 63% (52 nâng cấp từ cao đẳng, 2 thành lập mới) nhìn chung đảm bảo khá tốt các điều kiện cơ bản để hoạt động. Trong 33 trường đại học dân lập và tư thục được thành lập từ 1998 đến nay, có 6 trường đại học dân lập đã có thời gian hoạt động từ 6 đến 10 năm, nhìn chung đã có cơ sở vật chất khá, còn 27 trường đại học tư thục, chiếm 30% tổng số trường đại học mới được thành lập từ 2006 tới nay. Qua kiểm tra cho thấy khoảng 40 % số trường đại học này đã triển khai xây dựng cơ sở vật chất theo đúng kế hoạch (11 trường), 60% triển khai chậm (16 trường, chiếm 18% tổng số trường đại học mới). Tức là khoảng 82% số trường đại học mới được thành lập từ 1998 đến nay đảm bảo điều kiện cơ bản để hoạt động hoặc đang được xây dựng theo đúng tiến độ kế hoạch.
Sở dĩ có tình trạng một số trường đại học vẫn tuyển sinh, giảng dạy khi không đạt các yêu cầu mở ngành đã cam kết là vì các lý do sau:
1.Theo quy định hiện hành, việc thẩm định các điều kiện mở ngành đào tạo không nhất thiết phải tiến hành tại cơ sở đào tạo, mà có thể chỉ kiểm tra hồ sơ. Đây là nguyên nhân căn bản nhất.
2. Sau khi đã tuyển sinh, Thanh tra Bộ hàng năm có kiểm tra một số trường về điều kiện đào tạo, có xử lý các cơ sở sai phạm, song không có quy định nào yêu cầu phải thanh tra tất cả các cơ sở mới đi vào hoạt động trong thời gian nào. Thực tế 2 năm 2007, 2008, Thanh tra Bộ GDĐT đã thanh tra 19/33 trường đại học mới thành lập từ 1998, trong đó 13 trường được thanh tra về các điều kiện đảm bảo giảng dạy theo quy định (cơ sở vật chất, giảng viên, chương trình đào tạo), tức là chỉ khoảng 40% số trường được kiểm tra, còn 60% không được kiểm tra (Nếu phải thanh tra cả các trường đã thành lập từ trước 1998 thì tổng số trường đại học và cao đẳng phải thanh tra là 377 trường. Nếu mỗi tuần Bộ thanh tra được 2 trường thì phải 3,5 năm mới hết một vòng).
3. Các trường đã được thanh tra, có sai phạm được xử lý không đủ nghiêm khắc, không có biện pháp buộc các đơn vị sau đó phải kiên quyết khắc phục sai phạm. Các sai phạm về đào tạo, tuyển sinh có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 49/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005, ví dụ nếu tuyển sinh vượt 20% chỉ tiêu có thể bị phạt đến 40 triệu đồng; sử dụng giảng viên đại học không đủ tiêu chuẩn bị phạt đến 15 triệu đồng, vi phạm tỷ lệ giảng viên cơ hữu bị phạt đến 20 triệu đồng… Theo Điều lệ trường đại học do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 thì Bộ trưởng Bộ GD& ĐT có trách nhiệm xử lý trường đại học làm trái điều lệ theo các mức độ:
a) Nhắc nhở bằng văn bản;
b) Quyết định tạm ngừng tuyển sinh;
c) Kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ tạm ngưng hoạt động của trường;
d) Trình Thủ tướng Chính phủ hoặc phối hợp với các cơ quan chủ quản trình Thủ tướng Chính phủ quyết định giải thể trường.
Thực tế, việc xử phạt vi phạm hành chính bằng tiền mới được thực hiện từ năm 2007 (đã xử phạt 19 trường đại học, cao đẳng tuyển sinh vượt 20% chỉ tiêu với số tiền phạt từ 40 đến 60 triệu đồng mỗi trường). Còn việc quyết định tạm ngừng tuyển sinh mới thực hiện một lần (hệ trung cấp chuyên nghiệp).
4. Bộ GDĐT không tham mưu cho Chính phủ phân cấp cho UBND các cấp, các Sở Giáo dục và Đào tạo có quyền kiểm tra, thanh tra các cơ sở giáo dục đại học, trong khi theo NĐ 49/2005/NĐ-CP thì UBND các cấp và thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo có thể và có quyền sử phạt hành chính các cơ sở giáo dục sai phạm.
5. Mỗi trường Đại học có hàng trăm giảng viên, hàng nghìn sinh viên nhưng lực lượng đông đảo này chưa tham gia vào việc kiểm tra các trường đại học tuân thủ các quy định về đào tạo, quản lý trường đại học.
Sinh viên giám sát trường
Thế còn vai trò sinh viên, thưa ông? Họ cũng có thể tham gia giám sát chất lượng chính trường họ học, bởi Bộ đã có quy chế “3 công khai”: trường cam kết chất lượng giảng dạy, tên tuổi giáo viên, cở sở vật chất, giáo trình, thu chi tài chính?
Đúng vậy, cơ quan thanh tra của Bộ, các vụ, cục của Bộ, mỗi đơn vị chỉ khoảng 15-20 người, lại xa các trường hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn cây số. Trong khi đó, tại mỗi trường có hàng trăm giáo viên, hàng ngàn, vạn sinh viên, hàng ngày chứng kiến mọi hoạt động của trường.
Vì lợi ích của mình và xã hội trước hết sinh viên hãy phản ánh ngay ở trường những yếu kém, không đạt chuẩn của quá trình đào tạo, của điều lệ trường, và nhà trường phải trả lời những chuyện đó. Chúng ta phải xác định là không nên đặt vấn đề chỉ có nhà nước quản lý trường đại học mà tự mỗi trường phải quản lý lấy, chính giáo viên trong trường phải tham gia quản lý nhà trường, chính sinh viên trong trường là chủ thể chứ không phải tất cả cứ đổ lên “trên”.
Một xã hội phát triển tốt thì mọi người phải tham gia làm chủ chính công việc hàng ngày ở nơi mình làm việc.
Nhưng nếu sinh viên khi phản ánh chất lượng giáo dục của chính trường mình đang học thì họ sợ bị trù úm thì sao?
Sinh viên có thể phản ánh với tư cách cá nhân nhưng cũng có thể thông qua tổ chức của mình như Đoàn, Hội sinh viên hoặc lấy ý kiến đánh giá bằng phiếu mà không sợ bị trù dập.
Tên trường không đi kèm với chất lượng
Nói về giám sát, đầu năm nay, có trường như Trường Đại học Hồng Bàng, sau khi dư luận phàn nàn về học phí, cơ sở vật chất, giáo viên thì Bộ đã cử đoàn thanh tra. Nhưng 1 tháng sau, lại có quyết định đổi tên thành ĐH quốc tế? Đến tháng 9, sau khi báo chí lên tiếng về điều kiện cơ sở vật chất, năng lực đào tạo của trường vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, Bộ lại quyết định thanh tra. Tại sao lại có cách xử lý nửa vời như vậy?
Đó không phải là việc xử lý nửa vời. Nếu có phản ánh về yếu kém quản lý, cơ sở vật chất, Bộ vào kiểm tra, nhắc nhở là đúng. Nếu sau đó một thời gian, vẫn có phản ánh, Bộ vào kiểm tra lại là đúng. Không kiểm tra lại mới là nửa vời. Còn việc trường ĐH xin điều chỉnh tên là quyền của họ, chứ không nhất thiết kèm theo những cam kết chất lượng mới. Mức chất lượng thì họ phải đăng ký và được đánh giá khách quan và thông qua thực tiễn thì người dân sẽ biết được cái tên này đi kèm với chất lượng gì. Còn bản thân mỗi cái tên có chữ quốc tế không nên được mặc nhiên thừa nhận là có chất lượng quốc tế.
Người học - người sử dụng dịch vụ giáo dục phải kiểm tra, tìm hiểu về trường đó chứ không phải dựa vào cái tên.
Tuy nhiên, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ GDĐT chủ trì cùng các Bộ khác đề xuất về quản lý việc đặt tên các trường thống nhất và có tác dụng tích cực với hệ thống giáo dục quốc dân.
Vào tháng 4, đã có Nghị quyết của Bộ Chính trị yêu cầu không duy trì đại học kém chất lượng. Vậy Chính phủ và Bộ có kế hoạch triển khai như thế nào?
Thực ra những việc làm tôi nói từ đầu đến giờ là theo hướng đó, Chính phủ, Bộ GDĐT đang hoàn chỉnh các quy định liên quan đến việc kiểm tra nhà trường sau hoạt động, thực hiện 3 công khai, kiểm định chất lượng, thông qua đó chúng ta sẽ biết được chất lượng thực tế và từ đó đề xuất giải pháp xử lý. Tháng 01/2009, tức là trước khi có Nghị quyết của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 07/2009/QĐ-TTg về điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sát nhập, chia, tách giải thể trường đại học. Theo đó Bộ GDĐT có quyền xem xét các sai phạm của một trường đại học, trình Chính phủ quyết định quyết định đình chỉ hoạt động giáo dục hoặc giải thể trường đại học.
Tất nhiên đây không phải là việc làm ngay, mà phải có quy trình. Nếu một trường không đạt chất lượng nhưng đang có sinh viên thì biện pháp đầu tiên là không cho họ tuyển sinh mới để lo cho sinh viên cũ trước đã.
Nếu họ không làm được thì chúng ta có thể yêu cầu các trường khác hỗ trợ, chẳng hạn cử giảng viên giảng dạy để số sinh viên đó cũng phải ra trường đàng hoàng. Nhưng nếu họ không chứng minh được năng lực sẽ đủ thì trường đó sẽ không được duy trì.
Chúng ta có thể đóng cửa một ngôi trường nhưng phải có quy trình.
Tháng 05/2009 Bộ GDĐT đã ban hành Thông tư 09/2009/TT-BGDĐT về quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục. Theo đó từ năm học 2009-2010 các trường phải thực hiện 3 công khai: công khai cam kết chất lượng giáo dục và mức chất lượng thực tế được đánh giá; công khai nguồn lực của trường phục vụ cho đào tạo (giáo viên, cơ sở vật chất, chuơng trình...); công khai thu chi tài chính. Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về năm học 2009 - 2010 khối đại học đã nêu rõ: Đến tháng 01/2010, các trường nào không thực hiện công khai về cam kết chất lượng đào tạo, về nguồn lực phục vụ đào tạo và về tài chính theo hướng dẫn của Bộ thì sẽ không được phép tuyển sinh năm học 2010 - 2011.
Nhà giáo lâu năm, ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết nói việc mở trường đại học dễ dãi có sự nể nang từ phía cơ quan quản lý, ông nghĩ gì về nhận định này?
Theo tôi thì đại biểu Thuyết nên nói cụ thể hơn để cùng xem xét.
Câu hỏi cuối cùng, có độc giả cho rằng để giáo dục đại học được quan tâm đầy đủ, nên có quy định nào đó cấm cán bộ cho con đi học nước ngoài chẳng hạn?
Theo tôi, ý kiến đó không có căn cứ pháp lý và nhất là không phản ánh bản chất các bất cập trong quản lý hiện nay là gì. Ví dụ để khắc phục việc tồn tại các trường kém chất lượng, từ các điều nêu trên, chúng ta cần thực hiện các giải pháp sau:
1. Việc thẩm định các điều kiện để mở ngành, tuyển sinh phải tiến hành tại cơ sở giáo dục, không thẩm định chỉ dựa vào hồ sơ.
2. Tất cả các trường bắt đầu tuyển sinh thì 3 năm liên tục sau đó phải được kiểm tra và xử lý sai phạm nếu có.
3. Cơ quan kiểm tra các trường chủ yếu không phải là Bộ GDĐT mà là UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ, các Sở GDĐT. Chính phủ giao cho UBND cấp tỉnh, thành phố tham gia kiểm tra, quản lý các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn.
4. Các trường phải thực hiện “3 công khai” từ đó hàng ngàn, hàng vạn sinh viên và gia đình, hàng trăm thầy cô giáo sẽ tự giám sát trường của mình. Trường nào có các ngành chưa đảm bảo các điều kiện yêu cầu để được phép mở ngành thì không được phép đào tạo ngành đó.
5. Thực hiện quy chế đánh giá và kiểm định chất lượng bắt buộc đối với các trường đại học, cao đẳng thực hiện việc sinh viên tham gia đánh giá giảng viên qua môn học, triển khai việc giảng viên, cán bộ, công chức trong trường đánh giá định kỳ lãnh đạo các khoa và nhà trường.
Tôi chưa biết nước nào trên thế giới cấm quyền đi học nước ngoài của công dân. Lịch sử phát triển đất nước chúng ta là lịch sử biết quan tâm đến lợi ích quốc gia và của từng người dân, tạo sự hài hòa cho xã hội phát triển, chứ cực đoan không mang lại sự phát triển bền vững cho đất nước./.
0 nhận xét cho bài "BỘ SẴN SÀNG BÁO CÁO QUỐC HỘI VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC"
Đăng nhận xét